Trang nhất » Tin Tức » Chân dung nghệ sĩ

Bốn gương mặt trụ cột của Đoàn cải lương Kiên Giang

Thứ năm - 01/12/2005 02:56
Y Phương

Y Phương

(CLVN.VN) - Tỉnh Kiên Giang vừa đề nghị Nhà nước phong tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú năm 2005 cho bốn nghệ sĩ: Trung Thành, Xuân Trọn, Thanh Nam và Y Phương (là hội viên Hội Nghệ sĩ sân khấu VN), là những gương mặt trụ cột đã có nhiều cống hiến đáng kể của Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang.
TRUNG THÀNH - QUẢN LÝ VÀ CHỈ ĐẠO NGHỆ THUẬT

Hoạt động nghệ thuật từ trong năm 1961 ở Đoàn Văn công Rạch Giá, năm 1976, Trung Thành lãnh đạo Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang cho đến nay. Là nhạc công thuộc loại kỳ cựu của đoàn, sở trường của Trung Thành là đờn violon và sến. Những khi dự hội diễn, ra mắt vở mới, phục vụ lễ hội... Trung Thành mới thủ một trong hai nhạc cụ này.

Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang là một trong những đơn vị nghệ thuật ăn khách ở miền Tây Nam bộ suốt mấy mươi năm qua, đến nay vẫn là đơn vị có doanh thu khá nhất nhì khu vực. Nhờ tổ chức khá chặt chẽ, ổn định lực lượng khá dài lâu và sân khấu nghiêm túc, trong đó đã có phần lãnh đạo khéo léo của nhạc sĩ Trung Thành. Anh đã chỉ đạo nghệ thuật hàng chục vở diễn khá thành công, đặc biệt vừa trực tiếp chỉ đạo nghệ thuật và còn là nhạc công cho các mùa Hội diễn Sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc (SKCLCNTQ): 1979, 2000, 2002 và 2005. Theo kinh nghiệm của anh, ổn định được lực lượng lâu dài là nhờ công tác động viên anh chị em trong đoàn bằng tình cảm hơn là biện pháp hành chánh và tháo gỡ những vướng mắc, giúp đỡ những cá nhân có hoàn cảnh khó khăn kịp thời... Giữ được doanh thu tương đối bình ổn là do anh điều nghiên thị hiếu khán giả, khu vực bến bãi...

XUÂN TRỌN - NHIỀU VAI DIỄN ẤN TƯỢNG

Nghệ sĩ Xuân Trọn sinh ra (1951) và lớn lên tại Tân Hiệp (Kiên Giang), là diễn viên kỳ cựu của sân khấu tỉnh nhà. Ngay sau ngày giải phóng (1975), anh đã có mặt trên sân khấu Đoàn Văn công huyện Tân Hiệp, kế đó là diễn viên của Đoàn Ca múa nhạc tỉnh Kiên Giang, rồi đến diễn viên kịch nói, trưởng đoàn kịch nói của tỉnh. Từ năm 1990, anh về làm phó trưởng đoàn và diễn viên của Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang cho đến nay.

Sở trường của Xuân Trọn là những vai phản diện và độc mùi, khán giả tỉnh nhà cho rằng đây là giọng “mía lùi”. Anh đã có hàng chục vai diễn, nhưng có lẽ ở kịch nói thì vai giám đốc Hoàng Việt trong “Tôi và chúng ta”, thuyền trưởng Tư Huỳnh trong “Ngôi sao biển”, ở SKCL thì vai sư Thiện Ân trong “Tiếng chuông chùa Tam Bảo” (đoạt giải B), Năm Đợi trong “Niềm đau gia phả” (đoạt Huy chương vàng tại Liên hoan sân khấu khu vực Nam bộ 2002)... Ngoài ra anh còn được tặng Huy chương Vì sự nghiệp Công đoàn, Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa, Huy chương Vì sự nghiệp Sân khấu và nhiều bằng khen các cấp...

NS THANH NAM - VUA HÀI MIỀN TÂY

Có lẽ trên SKCL miền Tây Nam bộ, diễn viên hài Thanh Nam từ lâu đã được công chúng rất mến mộ, bởi lối diễn hài rất tự nhiên và có duyên. Ngoài sở trường hài anh còn đóng thành công những vai lão mùi. Với chất giọng trong trẻo, một làn hơi đầy đặn khá dài nên ở hai loại vai này đều thích hợp với Thanh Nam.

Thanh Nam sinh ra (1958) và lớn lên ở huyện Châu Thành (Cần Thơ), nhưng thành danh ở đất Kiên Giang. Bước vào SKCLCN từ năm 1978 (Tập thể Kiên Giang II), năm 1980 anh về Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang cho đến nay và hiện đang là phó đoàn phụ trách nghệ thuật. Phải nói rằng 25 năm qua, Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang tạo được tiếng cười cho công chúng là nhờ hàng chục vai hài của Thanh Nam. Đặc biệt, Thanh Nam thể hiện khá thành công những vai ông già Nam bộ với tính cách (khẳng khái, mộc mạc, chân tình, hết mình với làng xóm và phóng khoáng...) và ngữ điệu của các lão nông tri điền. Đó là những ông Tư Kèn trong “Quãng đời còn lại” (Huy chương bạc, Hội diễn SKCLCNTQ 2000), ông Tư Chờ trong “Niềm đau gia phả” (Huy chương vàng Liên hoan sân khấu khu vực Nam bộ), Hương quản Mùi trong “Tiếng chuông chùa Tam Bảo” (giải B), Độ Lượng trong “Tiếng thet nơi pháp trường” (Bằng khen)... Ngoài ra anh còn được tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa cùng nhiều bằng khen khác. Ở lĩnh vực hài, năm 1991, anh được xếp hàng thứ ba trong 10 danh hài được yêu thích nhất, do Báo Sân Khấu TPHCM tổ chức với hình thức trưng cầu ý kiến độc giả. Cũng cuộc trưng cầu ý kiến này, năm 1996 anh được xếp hàng thứ tư trong 20 danh hài được yêu thích nhất.

Ngoài ra, Thanh Nam còn tham gia lĩnh vực điện ảnh với các vai: ông nội “Thời vi tính”, ông Kim “Tiếng chuông trôi trên sông”, ông Tư Vui “Ngôi sao biển”, ông Mười “Người đánh trống trường”...

Y PHƯƠNG - THÀNH CÔNG NHỮNG VAI ĐÀO THƯƠNG

Y Phương sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn (1961). Vốn là con của kép hát (Đoàn cải lương Chuông Vàng (Hà Nội) trước 1954), nên chị rất mê cải lương. Sau 1975, gia đình chị về Kiên Giang. Năm 1978, chị đầu quân vào Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang để học nghề và trưởng thành đến nay.

Năm 1985, Y Phương mới hát chánh vai đào thương đầu tiên Mai Đình trong “Hàn Mạc Tử” và đã gây sự chú ý với khán giả tỉnh nhà. Vóc dáng hơi nhỏ nhắn, nhưng Y Phương có giọng ca truyền cảm và lối diễn tự tin nên rất nhập vai những nhân vật có số phận lận đận, khổ đau hay có nhiều nỗi niềm trắc ẩn. Ngoài những vai chánh như: Mai Đình (“Hàn Mạc Tử”), Nguyệt (“Tô Ánh Nguyệt”), Thà (“Tiếng chuông chùa Tam Bảo”), Nhạn (“Không bán tình em”), Y Phương còn đăng quang qua các vai: Bình trong “Quãng đời còn lại” (Huy chương bạc Hội diễn SKCLCNTQ 2000), Bích trong “Niềm đau gia phả” (Huy chương bạc, Liên hoan sân khấu khu vực Nam bộ 2002) và Bích Hà trong “Tiếng thét nơi pháp trường”.

Theo: ngocanh

Nguồn tin: Bài, ảnh: ĐỖ DŨNG

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Comment addGửi bình luận của bạn : Lưu ý viết có dấu khi thảo luận
Mã chống spamThay mới

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

Thảo Luận

21/10/2014
21/10/2014
20/10/2014
20/10/2014
20/10/2014
19/10/2014
19/10/2014
19/10/2014
19/10/2014